Đầu tư trực tiếp nước ngoài – Những nhân tố ảnh hưởng ?

Thực trạng FDI ( đầu tư trực tiếp nước ngoài) trong bối cảnh hiện nay

Các biện pháp đóng cửa, giãn cách xã hội tại nhiều quốc gia trên thế giới để đối phó với đại dịch COVID-19 đã làm chậm lại các dự án đầu tư hiện có, nguy cơ của một cuộc suy thoái khiến các công ty đa quốc gia (MNC) phải xem xét lại các dự án mới. Chịu ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch COVID-19, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu đã giảm 35% trong năm 2020 so với năm 2019, từ 1.500 tỷ USD xuống dưới 1.000 tỷ USD – mức thấp nhất kể từ năm 2005 và thấp hơn gần 20% so với mức đáy năm 2009 sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Năm 2021, FDI toàn cầu đã phục hồi và vượt qua mức trước đại dịch COVID-19, đạt 1.582 tỷ USD, tăng 64% so với năm 2020. Sự gia tăng này chủ yếu là do lợi nhuận đến từ các giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A) cùng mức lợi nhuận giữ lại tương đối cao của các MNC. Điều này đã dẫn đến các dòng tài chính nội bộ gia tăng đáng kể và xuất hiện những biến động mạnh về FDI tại các trung tâm đầu tư lớn. Sự phục hồi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2021 đã mang lại mức tăng trưởng cao ở tất cả các khu vực.

Trong đó, các nền kinh tế phát triển có mức tăng mạnh nhất đạt 134% (khoảng 746 tỷ USD), chiếm gần 3/4 mức tăng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu và cao gấp đôi so với mức năm 2020. Mặc dù dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nền kinh tế đang phát triển tăng 30%, đạt 837 tỷ USD, song do dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nền kinh tế đang phát triển tăng chậm hơn so với dòng FDI vào các khu vực phát triển nên tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước đang phát triển trong FDI toàn cầu đã giảm từ 66% (năm 2020) xuống 53% (năm 2021).Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Một số nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh hiện nay

Trên thực tế, sự sụt giảm và dịch chuyển dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu đã được định hình trong nhiều năm trở lại đây, đặc biệt kể từ năm 2018, khi căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc diễn ra gay gắt cùng với xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước gia tăng đã khiến dòng vốn đầu tư trên thế giới sụt giảm (trên 10% trong cả hai năm 2018 và năm 2019). Trong bối cảnh đó, đại dịch COVID-19 xuất hiện và lây lan nhanh chóng đã thúc đẩy quá trình dịch chuyển FDI diễn ra nhanh hơn, quyết liệt hơn. Sự dịch chuyển này có thể được lý giải bởi những nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, tái cấu trúc chuỗi cung ứng.

Được đánh giá là kiến trúc sư của chuỗi giá trị toàn cầu, các MNC chiếm khoảng 22% sản lượng toàn cầu, 70% tổng giá trị thương mại và chiếm tỷ trọng đáng kể về số lượng việc làm trên thế giới(2). Các cơ sở sản xuất của MNC được phân bố ở nhiều quốc gia, phần lớn trong số đó nằm ở các nước đang phát triển, nhất là ở Trung Quốc. Tuy nhiên, quá trình phát triển các chuỗi sản xuất này đã bộc lộ một số khiếm khuyết, tiềm ẩn những rủi ro.

Vì vậy, các MNC đã có xu hướng đa dạng hóa và dịch chuyển các chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc. Đại dịch COVID-19 bùng phát khiến cho chuỗi cung ứng bị đứt gãy, gián đoạn càng làm bộc lộ rõ hơn những bất cập trong chuỗi cung ứng hiện nay, như quá phụ thuộc vào nguồn cung của Trung Quốc; những tiềm ẩn rủi ro gia tăng bởi căng thẳng Mỹ – Trung Quốc ngày càng leo thang; chi phí sản xuất ở Trung Quốc tăng ngày càng cao, trong khi nước này đang dịch chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị.

Hơn nữa, sự tiến bộ của khoa học – công nghệ cùng sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy đầu tư và sản xuất hồi hương để giảm thiểu chi phí sản xuất và vận tải, cũng như tạo điều kiện để các nhà đầu tư sản xuất tiếp cận thị trường gần hơn. Do vậy, các MNC nhận thấy cần phải tái cấu trúc chuỗi cung ứng mạnh mẽ hơn.

Việc các MNC tái cấu trúc chuỗi cung ứng đã kéo theo sự dịch chuyển dòng vốn FDI theo các hướng: 1- Dịch chuyển đầu tư sản xuất từ Trung Quốc sang các nước khác trong khu vực như Ấn Độ và các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) để giảm thiểu sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong khi vẫn giữ và tận dụng được các cơ sở đã đầu tư tại Trung Quốc; 2- Dịch chuyển toàn bộ hoặc một phần đầu tư sản xuất về nước (reshoring) hoặc về gần các nước đi đầu tư (near-reshoring).

Thứ hai, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng giảm.

Xu hướng sụt giảm FDI đã được định hình kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2008 và được thể hiện ở cả tỷ lệ FDI/GDP thế giới, FDI/đầu tư thế giới và FDI/thương mại thế giới. Năm 2020, FDI chỉ chiếm dưới 4% tổng giá trị thương mại đầu tư toàn thế giới, thấp hơn nhiều so với con số 22% ở thời kỳ đỉnh điểm năm 2007. Sự sụt giảm này một phần là do tỷ suất lợi nhuận trung bình từ FDI trên toàn cầu đã sụt giảm trong thập niên qua(3).

Trong giai đoạn 2007 – 2018, tỷ suất lợi nhuận trung bình từ FDI ở các nền kinh tế phát triển ở mức khá ổn định (đạt mức 4,0% đến 6,7%), thậm chí từ năm 2010, tỷ suất lợi nhuận này ổn định hơn (đạt mức 5,9% đến 6,7%). Trong khi đó, tỷ suất lợi nhuận trung bình từ FDI ở các nền kinh tế đang phát triển giảm từ khoảng 11,5% (năm 2011) xuống còn 7,8% (năm 2018). Ở các nền kinh tế chuyển đổi, tỷ suất này ổn định hơn cả. Đây cũng là lý do mà FDI vào các nước đang phát triển có xu hướng giảm mạnh hơn so với các khu vực khác.

Quy mô FDI toàn cầu chủ yếu dựa trên hoạt động đầu tư của các MNC, vì vậy khả năng tái đầu tư của họ sẽ suy giảm khi lợi nhuận của các công ty này sụt giảm. Năm 2020, dòng vốn FDI của các tập đoàn đa quốc gia từ các nước phát triển đã giảm hơn một nửa, xuống còn 347 tỷ USD – giá trị thấp nhất kể từ năm 1996(4).

Một yếu tố khác cũng có thể khiến tỷ suất lợi nhuận từ FDI sụt giảm chính là sự không chắc chắn của nền kinh tế. Một trong những chỉ số đo lường về sự không chắc chắn trong triển vọng của nền kinh tế là chỉ số tính bất định của chính sách kinh tế (EPU). Chỉ số EPU đã gia tăng trong thập niên vừa qua. Khi đại dịch COVID-19 bắt đầu xuất hiện, chỉ số EPU toàn cầu cao gấp ba lần mức đã chứng kiến vào đầu năm 2010, mức cao nhất được khảo sát trên phạm vi toàn cầu nói chung và ở Mỹ nói riêng.

Thứ ba, cuộc xung đột giữa Nga – Ukraine.

Tác động của cuộc xung đột giữa Nga – Ukraine đã vượt ra ngoài phạm vi khu vực, gây ra cuộc khủng hoảng trên cả ba lĩnh vực: lương thực, nhiên liệu và tài chính, đẩy giá năng lượng và hàng hóa tăng cao dẫn đến lạm phát và vòng xoáy nợ ngày càng trầm trọng. Điều này đang làm gia tăng tình trạng rủi ro, làm suy giảm niềm tin kinh doanh và đầu tư, ảnh hưởng đáng kể tới đà phục hồi FDI toàn cầu.

Năng lực sản xuất và thị phần xuất khẩu của một số mặt hàng nguyên liệu, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và tiêu dùng, như xăng dầu, khí đốt, lúa mì, nhôm, nikel, ngô… của Nga và Ukraine là rất lớn. Do đó, sự kéo dài của cuộc xung đột Nga – Ukraine đã làm gia tăng sự gián đoạn trong sản xuất và thương mại, làm trầm trọng thêm tình trạng lạm phát, vốn đang tăng cao trên toàn cầu do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19.

Chỉ trong vòng hai tuần kể từ khi xảy ra căng thẳng giữa Nga và Ukraine, giá dầu thô trên thị trường thế giới đã tăng 30% so với mức giá đầu năm 2022 và tăng khoảng 80% so với mức đáy thiết lập đầu tháng 12-2021(5). Chiến sự ở Ukraine kéo dài sẽ tiếp tục tác động đến giá cả hàng hóa và lạm phát trên thế giới.

Dự báo giá năng lượng năm 2022 sẽ tăng 52%, giá nông sản sẽ tăng 18%, giá phân bón tăng gần 70% và giá kim loại tăng 12%. Lạm phát ngày càng lan rộng sang nhiều quốc gia sẽ khiến kinh tế toàn cầu phải đối mặt với áp lực gia tăng tỷ lệ lạm phát. Dự báo lạm phát sẽ tăng 5,9 – 6,7% (gấp đôi so với năm 2021). Trong đó, lạm phát tại các nền kinh tế phát triển là 5,7% và tại thị trường các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển là 8,7%, cao hơn 1,8 và 2,8 điểm phần trăm so với dự báo đã đưa ra trong tháng 1-2022.

Lạm phát gia tăng dẫn đến làn sóng thắt chặt chính sách tiền tệ diễn ra rộng khắp trên toàn thế giới với tốc độ nhanh chưa từng thấy trong nhiều thập niên gần đây. Chỉ trong 3 tháng qua, trên toàn thế giới đã công bố hơn 60 đợt nâng lãi suất. Nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo các đợt nâng lãi suất này chỉ là khởi đầu cho một chu kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ trên toàn cầu. Quá trình thắt chặt chính sách được dự đoán sẽ diễn ra nhanh nhất tại các nước phát triển, như Mỹ và Anh, EU.

Thanh khoản toàn cầu ngày càng bị thắt chặt. Ngày 21-9-2022, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tiếp tục tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm (lần thứ ba liên tiếp từ đầu năm 2022 FED tăng lãi suất dựng đứng 0,75%) nhằm kiềm chế lạm phát tăng cao nhất trong 40 năm qua tại Mỹ. Đồng đô la Mỹ đóng vai trò là đồng tiền dự trữ quốc tế, do đó việc tăng lãi suất của Mỹ không chỉ ảnh hưởng đến dòng vốn nước ngoài mà còn đẩy tỷ lệ rủi ro nợ toàn cầu lên cao, đặc biệt là đối với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

Các chuyên gia phân tích dự báo, động lực cho dòng vốn đầu tư năm 2022 thiếu tính bền vững, dòng vốn FDI toàn cầu trong năm 2022 sẽ giảm tốc hoặc có khả năng đi ngang nhưng các dự án đầu tư mới sẽ không mang tính chắc chắn. Đồng thời, dòng vốn đầu tư chảy vào các lĩnh vực liên quan đến mục tiêu phát triển bền vững vẫn còn yếu, đặc biệt như nông nghiệp, y tế, giáo dục. Trong quý I-2022, dòng vốn đầu tư vào các dự án xanh đã giảm 21% trên toàn cầu, các hoạt động M&A – động lực của dòng FDI trong năm 2021 đã giảm 13%, các dự án tài trợ quốc tế giảm 4%.

Những chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ đạo hiện nay

Tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 và những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới đối với dòng vốn FDI quốc tế là vô cùng lớn, buộc các quốc gia phải điều chỉnh lại các chính sách về FDI của mình, một mặt để giúp phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19, mặt khác để bảo vệ an ninh quốc gia và sức khỏe cộng đồng. Năm 2020, 67 nền kinh tế trên thế giới đã đưa ra tổng số 152 biện pháp, chính sách liên quan đến đầu tư nước ngoài, trong đó nổi lên một số điểm chính như:

Một là, khuyến khích, thúc đẩy đưa sản xuất và dòng vốn FDI quay trở về nước.

Trên thực tế, trước đại dịch COVID-19, Mỹ đã ban hành nhiều chính sách để thu hút đầu tư, sản xuất và kinh doanh tại Mỹ nhằm tạo thêm việc làm, như miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp Mỹ (giảm thuế thu nhập từ 25% xuống 21%), cải cách thủ tục cấp phép đầu tư, đưa ra các tiêu chuẩn linh hoạt hơn nhằm nâng cao tính cạnh tranh của một số ngành công nghiệp Mỹ (năng lượng, ô-tô, nhôm, thép…), áp thuế cao đối với hàng hóa nhập khẩu. Ngày 14-5-2020, Tổng thống Mỹ D. Trump đã ký sắc lệnh nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Mỹ dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc.

Các nhà lập pháp của Mỹ cũng đã soạn dự thảo luật nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của Mỹ vào Trung Quốc, trong đó bao gồm ý tưởng thành lập một quỹ 25 tỷ USD để đầu tư vào các doanh nghiệp Mỹ muốn “cải tổ” mối quan hệ với Trung Quốc(8). Các doanh nghiệp Mỹ không chỉ rời Trung Quốc về Mỹ, mà còn dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc đến các quốc gia khác phù hợp hơn. Mỹ còn thúc đẩy “mạng lưới kinh tế thịnh vượng” nhằm kết nối, phối hợp các quốc gia trong tự chủ về chuỗi cung ứng.

Các nước Liên minh châu Âu (EU) thúc đẩy kinh tế “tự chủ chiến lược” thông qua kiểm soát nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài, như Đức, Italia quy định, kiểm soát chặt chẽ hơn đối với FDI trong các ngành chiến lược; Pháp triển khai chiến lược “sản xuất tại Pháp” nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước với các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, như ô-tô, hàng không, công nghệ số…

Nhật Bản dành ngân sách 2,2 tỷ USD, trong đó 2 tỷ USD để hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đưa mạng lưới sản xuất từ Trung Quốc về nước và khoảng 200 triệu USD để hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản di chuyển mạng lưới sản xuất ra khỏi Trung Quốc sang nước thứ ba đối với một số ngành ưu tiên (như thiết bị y tế, phụ tùng ô tô, điện tử, kim loại hiếm…). Hàn Quốc ban hành luật thu hút các doanh nghiệp đã đầu tư ở nước ngoài quay về sản xuất, kinh doanh trong nước. Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc) cũng đưa ra hàng loạt ưu đãi về đất đai, điện, nước, vốn và thuế để thu hút các doanh nghiệp quay trở lại đất nước.

Hai là, chính sách sàng lọc đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục gia tăng.

Năm 2021, số lượng chính sách về đầu tư mới được đưa ra đã giảm xuống còn 109, ít hơn 28% so với năm 2020. Điều đó cho thấy sự giảm thiểu của việc đưa ra các chính sách đầu tư khẩn cấp đặc trưng trong năm đầu tiên xuất hiện đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, các nước vẫn tiếp tục tăng cường nhiều biện pháp sàng lọc FDI nhằm bảo vệ các doanh nghiệp chiến lược thoát khỏi sự thâu tóm của nước ngoài, đưa tỷ lệ các biện pháp hạn chế, giám sát đầu tư từ 41% năm 2020 lên 42% trong năm 2021 (là tỷ lệ cao nhất được đưa ra kể từ năm 2003).

Những biện pháp này phần lớn được áp dụng ở các nền kinh tế phát triển, song một số nền kinh tế mới nổi và đang phát triển cũng đã tăng cường rà soát dòng vốn FDI. Trong khi đó, chỉ riêng trong quý I-2022 đã có tới 75 chính sách mới về đầu tư – một số lượng kỷ lục tính theo quý, chủ yếu là các chính sách nhằm ứng phó với những tác động đến từ cuộc xung đột giữa Nga – Ukraine. Các biện pháp trừng phạt và đáp trả liên quan đến xung đột Nga – Ukraine chiếm 70% tổng số các biện pháp được áp dụng trong quý I-2022.

Ba là, cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng khốc liệt.

Để khôi phục kinh tế sau đại dịch COVID-19, dòng vốn FDI ngày càng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển – nơi phụ thuộc rất nhiều vào FDI để tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và tạo việc làm. Tuy nhiên, sự sụt giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh mẽ trong năm 2020 đã đẩy các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi vào một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt mới để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất ở khu vực châu Á. Trong đó các chính sách thuế được sử dụng khá phổ biến và thường xuyên để thúc đẩy nguồn đầu tư quốc tế.

Trong bối cảnh các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm những điểm đến có chi phí vận hành, sản xuất thấp hơn và có sẵn chuỗi cung ứng, thì Ấn Độ và các nước Đông Nam Á đang nổi lên như một lựa chọn có thể thay thế Trung Quốc. Tận dụng cơ hội này, Ấn Độ đã xem xét miễn giảm thuế cho các dự án đầu tư mới; dành ra một quỹ đất hơn 460.000ha để thu hút các doanh nghiệp dịch chuyển mạng lưới sản xuất từ Trung Quốc về Ấn Độ.

Ngoài ra, Ấn Độ cũng đang tập trung thúc đẩy các hiệp định thương mại với các quốc gia khác. Nhiều nước thành viên ASEAN kiểm soát tốt đại dịch COVID-19 và đang trên đà phục hồi kinh tế, đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Với mong muốn đưa nền kinh tế vượt qua thời kỳ khó khăn và trở thành khu vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn thứ ba trên thế giới, các nước ASEAN tăng cường hợp tác để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc luân chuyển hàng hóa trong khối và nỗ lực tạo dựng môi trường cạnh tranh tốt nhất.

Indonesia đã ban hành các chính sách ưu đãi mới nhằm tiếp đón các nhà đầu tư nước ngoài, như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 22% – 25% trong năm 2020 và giảm tiếp xuống 20% vào năm 2022; dành ra một khu vực rộng 4.000ha để xây dựng nhiều khu công nghiệp mới; tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào kết cấu hạ tầng.

Thái Lan đẩy mạnh thu hút đầu tư trong lĩnh vực thiết bị y tế, ưu tiên các dự án công nghệ cao với ưu đãi giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm và hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Malaysia cũng có những ưu đãi thuế để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược.

Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp khá mạnh mẽ nhằm “giữ chân” các nhà đầu tư, giảm thiểu việc dịch chuyển mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc, như xây dựng các chính sách ưu đãi đặt biệt đối với các doanh nghiệp hàng đầu thế giới, nhất là các tập đoàn đa quốc gia của phương Tây; ban hành Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi; mở rộng các khu thương mại tự do thí điểm với nhiều ưu đãi; tăng cường hợp tác kinh tế với khu vực.

Trọng tâm là hợp tác khu vực Đông Bắc Á, khuôn khổ hợp tác song phương của ASEAN với từng đối tác bên ngoài (ASEAN+1), khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN với ba nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN+3), thúc đẩy Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); áp dụng một số rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế nhà đầu tư rút vốn.

Tài liệu tham khảo:

 

  1. Vũ Xuân Thanh: “Kinh tế thế giới trước tác động của xung đột quân sự Nga – Ukraine”, Tạp chí Ngân hàng điện tử, ngày 1-4-2022, https://tapchinganhang.gov.vn/kinh-te-the-gioi-truoc-tac-dong-cua-xung-dot-quan-su-nga-ukraine.htm
  2. Tổng cục Thống kê: “Tổng quan dự báo tình hình kinh tế thế giới quý II và cả năm 2022”, Trang thông tin điện tử Tổng cục thống kê, ngày 29-6-2002, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/06/tong-quan-du-bao-tinh-hinh-kinh-te-the-gioi-quy-ii-va-ca-nam-2022/
  3. UNCTAD: “World Investment Report 2022 – International tax reformsand sustainable investment” (Tạm dịch: Báo cáo Đầu tư thế giới 2022 – Cải cách thuế quốc tế và đầu tư bền vững), United Nations Publications, New York, USA, 2022
    Đinh Thế Phúc, Đinh Thị Thanh Hải: “Xu thế dịch chuyển đầu tư và gợi ý một số giải pháp cho Việt Nam về tiếp nhận dòng vốn FDI mới sau đại dịch Covid-19”, Tạp chí Công Thương, số 16, tháng 7-2020

https://fdi.gov.vn/Pages/TrangChu.aspx

Các bài viết cùng chủ đề :

https://clibme.com/cac-hinh-thuc-fdi-tai-viet-nam-va-3-loai-fdi-chinh/

https://clibme.com/uu-va-nhuoc-diem-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-fdi/

Sinh viên thực hiện: Lê Nguyễn Hoàng Nhi

MSSV: 20050147

Lớp: QH-2020-E KTQT CLC 2

Mã lớp học phần: INE3104 4